Connect with us

Thể chế

5 nguyên tắc nền tảng làm nên Hiến pháp Hoa Kỳ (phần 1)

Published

on

Hiến pháp đã đi vào lịch sử nhân loại theo nhiều cách thức khác nhau.

Nó đã từng được ban hành bởi một vị vua, được tuyên bố sau khi một lãnh thổ bị chinh phục, hay được truyền lại thông qua các lãnh tụ tôn giáo như khi tiên tri Moses dẫn lại Mười Điều Răn và luật pháp từ lời Chúa Trời đến người Do Thái. Hoặc hiến pháp cũng từng được làm ra bởi duy nhất một người, như khi Solon – một luật gia thông thái thành Athens – đã viết nên bản hiến pháp mới cho công dân La Mã vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên.

Có hiến pháp không ở dạng thành văn mà được tập hợp từ nhiều tập quán lâu đời và phán quyết của quan tòa, như hệ thống “thông luật” (common law) của Anh quốc. Hay thông dụng và gần gũi với chính trị hiện đại hơn cả là cách thức làm hiến pháp thông qua một nhóm làm việc có chức năng đại diện.

5 nguyên tắc nền tảng làm nên Hiến pháp Hoa Kỳ – Phần 2
5 nguyên tắc nền tảng làm nên Hiến pháp Hoa Kỳ – Phần 3

Dù bằng cách thức lập nên như thế nào, hầu hết các hiến pháp đều không tồn tại lâu theo thời gian. Gần như toàn bộ những bản hiến pháp ra đời ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ 1 đều sụp đổ khi Thế chiến thứ 2 kết thúc – trong chưa đầy một phần tư thế kỷ. Nhiều hiến pháp mới hơn ra đời ở châu Âu, châu Á và châu Phi sau năm 1945 cũng không thể trụ vững hoặc thật sự phát huy tác dụng đến thời điểm hiện tại.

Chính vì vậy mà Hiến pháp Hoa Kỳ vẫn thường được nhắc đến như một trong những công trình có giá trị và sức ảnh hưởng lớn trong văn minh nhân loại.

Chính thức có hiệu lực vào năm 1789, Hiến pháp 1787 vẫn tiếp tục là “đạo luật mẹ” trên đất Mỹ cho đến ngày nay. Tựa như một cây lớn được nuôi dưỡng bởi những tinh túy hấp thụ từ lòng đất qua nhiều năm, Hiến pháp Hoa Kỳ bén rễ từ những tinh hoa được chắt lọc xuyên suốt lịch sử triết học, chính trị, pháp lý, đạo đức và tập quán xã hội qua nhiều thời kỳ của nhiều quốc gia. Tiếng Anh Pháp Lý cùng độc giả tìm hiểu những nguyên tắc nền tảng đã giúp bản Hiến pháp này đứng vững và có sức sống đến hôm nay.

us-constitution

Bản gốc của Hiến pháp Mỹ hiện đang được trưng bày tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ và được bảo vệ nghiêm ngặt. Ảnh: beforeitsnews.com

Chủ quyền nhân dân

Chủ quyền nhân dân (popular sovereignty) là nền tảng cho việc hình thành nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngay từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 những người lập quốc đã khẳng định nhà nước chính danh phải là các chính thể “được lập ra trong nhân dân và tiếp nhận những quyền lực chính đáng từ sự đồng thuận của nhân dân(“are instituted among Men, deriving their just powers from the consent of the governed”).

Tiếp nối tinh thần đó, Hiến pháp 1787 một lần nữa trịnh trọng nhắc lại nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Lời mở đầu (Preamble): “Chúng tôi, nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ… quyết định xây dựng Hiến pháp này cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ(“We the people of the United States… do ordain and establish this Constitution for the United States of America”).

Đi sâu hơn vào Hiến pháp Mỹ, nguyên tắc chủ quyền nhân dân biểu hiện ở Điều VII (Article VII) với quy định phải có ít nhất 9 tiểu bang thông qua dự thảo Hiến pháp để nó trở thành luật tối cao trên toàn lãnh thổ. Cũng vì quy định này mà James Madison cùng những người ủng hộ thể chế Liên bang, the Federalists, đã phải mất gần 1 năm vận động và thuyết phục những người còn hoài nghi hoặc chống đối (anti-Federalists) trước khi New Hampshire trở thành bang thứ 9 phê chuẩn dự thảo Hiến pháp vào ngày 21/6/1788.

Nguyên tắc chủ quyền nhân dân cũng được thể hiện tại Điều V khi quy định Hiến pháp chỉ được sửa đổi, bổ sung thông qua các dân biểu đại diện. Cụ thể, đề xuất sửa đổi, bổ sung Hiến pháp (proposed amendment) chỉ được chấp thuận sau khi có hai phần ba số phiếu ủng hộ ở mỗi viện của Quốc hội hoặc tại một hội nghị sửa đổi hiến pháp (constitutional convention) do Quốc hội tổ chức. Ở mức độ đòi hỏi cao hơn, đề xuất sửa đổi chỉ được thông qua để trở thành tu chính án (amendment) khi có được sự chấp thuận của nghị viện cấp tiểu bang tại ba phần tư trên tổng số bang toàn nước Mỹ, hoặc chấp thuận của các hội nghị sửa đổi hiến pháp tổ chức tại ba phần tư trên tổng số các tiểu bang.

Cuối cùng, popular sovereignty được tìm thấy trong quy định Quốc hội (Congress) phải được người dân bầu lên trực tiếp, cụ thể ở Điều I liên quan đến Hạ viện (House of Representatives) và Tu chính án thứ 17 sửa đổi cách thức bầu cử Thượng nghị sĩ (Senator) từ hình thức gián tiếp thông qua nghị viện bang sang bầu cử trực tiếp bởi cử tri.

Qua Tuyên ngôn Độc lập 1776 và Hiến pháp 1787, Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong cho việc lấy chủ quyền toàn dân là nền tảng hình thành đất nước cũng như xây dựng nhà nước. Ban đầu là một hiện tượng lạ trong bức tranh chính trị thế giới cuối thế kỷ 18, giờ đây nguyên tắc này đã trở thành tiêu chuẩn toàn cầu khi xem xét tính chính danh của các chính thể. Không một quốc gia nào được xem là dân chủ mặc cho những lời tuyên bố ra sao nếu như hiến pháp của nó không ghi nhận chủ quyền nhân dân hoặc nguyên tắc này không được cụ thể hóa qua các chế định và hiện thực hóa trong sinh hoạt chính trị.

Phân quyền – Kiểm soát và Đối trọng

Một trong những “tử huyệt” của Hiến chương Liên hợp bang (Articles of Confederation) nằm ở chỗ nó không trao cho nhà nước Liên hợp bang quyền hạn tách bạch lẫn tính cưỡng chế cần có ở một bộ máy trung ương. Quốc hội là cơ quan duy nhất của nhà nước Liên hợp bang, với những thẩm quyền có được, cơ quan này hầu hết đều chia sẻ cùng chính quyền các tiểu bang. Do mỗi bang có chủ quyền độc lập nên Quốc hội không thể áp đặt ý chí lên chính quyền bang khi có sự xung đột thẩm quyền.

Hiến pháp 1787 – Hiến pháp hiện hành của Hoa Kỳ – đã khắc phục hạn chế này bằng cách kiến tạo một nhà nước trung ương sở hữu quyền lực tối cao. Đồng thời, để khắc phục xu hướng lạm quyền và tha hóa khi mọi quyền lực tập trung (concentration of powers) vào một thực thể từ những bài học trong quá khứ, Hiến pháp 1787 chia nhà nước trung ương thành 3 bộ phận gồm Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Ba cơ quan này đại diện cho ba nhánh quyền lực nhà nước với thẩm quyền tuyệt đối trên toàn lãnh thổ quốc gia nhưng chỉ trong phạm vi ứng với chức năng của chúng. Từ nguyên tắc Phân quyền (Separation of powers), Hiến pháp Hoa Kỳ đặt Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp ở địa vị pháp lý lẫn chính trị ngang bằng và độc lập.

Cụ thể, Điều I Hiến pháp tạo ra nhánh lập pháp (legislative branch) với chức năng làm luật (law-making) có hiệu lực trên toàn nước Mỹ. Điều II trao cho nhánh hành pháp (executive branch) trách nhiệm bảo vệ và phục vụ xã hội dựa trên thẩm quyền thực thi luật pháp (law enforcement). Điều III quy định chức năng giải thích luật (interpretation of laws) thuộc về nhánh tư pháp (judicial branch); đồng thời xuất phát từ truyền thống án lệ (case law) thừa hưởng từ Anh Quốc, tòa án cũng có quyền làm luật thông qua các phán quyết trong những vụ việc mà luật ban hành bởi Quốc hội không quy định rõ ràng hoặc chưa điều chỉnh.

Tuy nhiên, việc chuyên môn hóa công quyền và phân chia trách nhiệm đối với cơ quan nhà nước chỉ là một nửa của nguyên tắc Phân quyền. Khi trao cho ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp địa vị ngang bằng và độc lập, mục đích của những bậc tiền nhân đã viết nên Hiến pháp Mỹ nhằm đảm bảo mỗi trong các cơ quan có đủ năng lực để thực hiện quyền kiểm soát hoạt động của hai cơ quan còn lại, qua đó hạn chế quyền lực của chúng, tránh tình trạng tập trung quyền lực vào một cơ quan. Đây là cơ chế Kiềm soát và Đối trọng (checks and balances), hạt nhân của nguyên tắc Phân quyền.

Hơn 2 thế kỷ qua hệ thống tam quyền phân lập trong bộ máy nhà nước Mỹ đã hoạt động hiệu quả và ổn định. Dẫu vậy, từ năm 1789 đến nay cũng đã có không ít câu hỏi nảy sinh liên quan đến vấn đề ranh giới thẩm quyền khi Hiến pháp không nói rõ. Chẳng hạn:

– Điều II quy định Tổng thống có quyền “đề cử và bổ nhiệm các công chức chính phủ theo sự tham vấn và đồng thuận đa số của Thượng viện (advice and consent of the Senate)”. Tuy nhiên Hiến pháp không trao quyền cách chức các vị trí này cho Tổng thống. Như vậy Tổng thống có quyền cho thôi đảm nhiệm chức vụ đối với một viên chức hành pháp mà không qua “sự tham vấn và đồng thuận” của Thượng viện hay không?

– Điều III quy định tòa án liên bang có quyền xét xử vụ việc thuộc phạm vi điều chỉnh của luật liên bang. Tuy nhiên, Hiến pháp lại không nêu cụ thể liệu các tòa này có quyền tuyên hủy bỏ một đạo luật liên bang trong trường hợp nó xung đột với quy định của Hiến pháp. Vậy điều đó có nghĩa tòa liên bang không có quyền giám sát tư pháp (judicial review)?

Các ví dụ trên chỉ là hai trong những khoảng trống trong Hiến pháp Mỹ, mà kết cuộc đã dẫn đến các tranh chấp pháp lý ở tòa án. Và đó cũng là lúc chức năng làm luật bằng các án lệ của nhánh Tư pháp phát huy tác dụng. Ở thí dụ thứ nhất, qua hai bản án Humprhey’s Executor v. United States (1935) và Morrison v. Olson (1988), Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (U.S Supreme Court) đã xác định quyền sa thải các viên chức có bản chất công việc thuần hành pháp thuộc về Tổng thống, còn với các chức vụ mang một phần chức năng lập pháp (quasi-legislative) hoặc một phần chức năng tư pháp (quasi-judicial), quyền sa thải thuộc về Quốc hội theo các điều kiện luật định. Ở thí dụ thứ hai, tuy quyền giám sát tư pháp không được nhắc đến trong Hiến pháp 1787 nhưng vào năm 1803, Tối cao Pháp viện đã chính thức xác lập thẩm quyền trên cho tất cả các tòa thuộc hệ thống tòa án liên bang trong bản án mang tính lịch sử Marbury v. Madison; đồng thời qua phán quyết trong vụ United States v. Butler (1963), một định nghĩa chi tiết cho quyền giám sát tư pháp cũng được bổ sung bởi Tối cao Pháp viện.

Như vậy, có thể thấy thông qua việc thực hiện chức năng giải thích luật được Hiến pháp trao, trong hoạt động xét xử, nhánh Tư pháp thuộc nhà nước liên bang Hoa Kỳ còn đóng vai trò bổ sung và hoàn thiện cho Hiến pháp nước này. Hay nói cách khác, các phán quyết của Tối cao Pháp viện về các vấn đề thuộc Hiến pháp cũng trở thành một phần Hiến pháp.

———-

(Bài viết được tham kho t trang annenbergclassroom.org và bài viết “Mô hình giám sát chính quyền bằng tư pháp ở Mỹ ca tác gi Đng Minh Tun, lược dch t cun “Constitutional Law for a Changing America: Institutional Powers and Constraints” (2001) ca Lee Epstein & Thomas J. Walker)

 

Bạn có biết...

... Luật Khoa là một tạp chí độc lập và phi lợi nhuận. Với mong muốn mang lại trải nghiệm đọc báo tốt nhất cho bạn đọc, chúng tôi không đặt quảng cáo và do đó không có doanh thu. Luật Khoa chi trả mọi chi phí bằng các khoản đóng góp của bạn đọc.

Mỗi ngày, các phóng viên, biên tập viên và cộng tác viên của Luật Khoa đều tận tâm với từng con chữ và từng mối quan tâm của bạn đọc, nhằm mang lại cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ và đa chiều về những vấn đề pháp luật, chính trị.

Nếu tất cả bạn đọc đều đóng góp cho Luật Khoa, dù là 20 nghìn đồng, tờ báo độc lập và khai phóng này của chúng ta sẽ hoạt động hiệu quả và bền vững hơn rất nhiều. Mỗi đồng bạn đóng góp đều giúp cho Việt Nam của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn, và bạn chỉ mất một phút để trở thành nhà tài trợ của Luật Khoa. Xin cảm ơn.