Café Luật Khoa

7 nhóm tiêu chuẩn vàng để quản lý mại dâm hiệu quả

Một khu phố đèn đỏ ở Bangkok, Thái Lan. Ảnh: Getty Images.

Một hội thảo về chính sách và pháp luật về mại dâm được tổ chức hôm 28/3/2018 tại Hà Nội đã đưa tranh luận hợp pháp hóa mại dâm trở lại bàn nghị sự của công luận Việt Nam.

Vấn đề có nên hợp pháp hóa mại dâm hay không hiện đang được bàn luận sôi nổi với các chiều ý kiến trái ngược nhau: người thì ủng hộ hợp pháp hóa để bảo vệ quyền con người, người thì cho rằng hợp pháp hóa là sai lầm vì “chưa hợp lý và khó khả thi” hay cảnh báo rằng hợp pháp hóa sẽ làm “gia tăng thêm nhiều tệ nạn”.

Vài ý kiến khác chỉ ra các vấn đề phát sinh đã được thấy từ thực tiễn hợp thức hóa mại dâm của các nước khác.

Giáo sư xã hội học Ronald Weitzer của Đại học George Washington (Mỹ) thì lại không hề thấy bi quan về tính thực tiễn của việc hợp pháp hóa mại dâm. Và ông đi đến nhận xét đó dựa vào việc nghiên cứu và so sánh kỹ lưỡng thực tiễn việc hợp pháp hóa mại dâm trong nhiều năm qua tại một loạt các nước trên thế giới bao gồm Mỹ, Úc, Mexico, Bỉ, Đức, Hà Lan, và New Zealand.

Giáo sư Ronald Weitzer – Ảnh: cato-unbound.org

Từ các nghiên cứu của mình, giáo sư Weitzer cũng chỉ ra:

Huyền thoại thường che khuất thực tế khi người ta nhìn vào hình ảnh đại chúng của mại dâm và các hình thức công việc tình dục khác.

Các huyền thoại này thường được dựng lên bởi truyền thông và các chính trị gia hay các nhóm lợi ích thiên lệch.

Một số huyền thoại có gốc gác từ những mẫu rập khuôn (stereotype) từ hàng trăm năm trước, trong khi một số khác mới có gần đây, như sự nhập nhằng giữa mại dâm và nạn buôn bán nô lệ tình dục.”

Đồng thời quan trọng hơn là Weitzer đã xác định được một danh sách các nhóm “tiêu chuẩn vàng” có thể được sử dụng để quy hoạch chính sách và thiết kế luật pháp giúp cho việc hợp pháp hóa mại dâm hiệu quả trong khi tránh được các bất cập đi kèm.

Café Luật Khoa tuần này xin giới thiệu với các bạn các nhóm tiêu chuẩn đó trong cuốn sách “Hợp pháp hóa mại dâm: Từ tệ nạn bị cấm đoán trở thành việc kinh doanh hợp pháp” (Legalizing prostitution: From illicit vice to lawful business), xuất bản năm 2011, của giáo sư Weitzer.

Trích đoạn Hợp pháp hóa mại dâm: Từ tệ nạn bị cấm đoán trở thành việc kinh doanh hợp pháp” (Legalizing prostitution: From illicit vice to lawful business) – Nhà xuất bản Đại học New York 2011 – Tác giả: Ronald Weitzer

Luật Khoa trích đoạn và dịch từ sách gốc bản tiếng Anh (cách dòng do người trích, hình minh họa không thuộc nội dung trong sách)

 

“… Nhà triết học Christine Overall đã lập luận: “Có thể tưởng tượng rằng ngành mại dâm luôn luôn có thể hoạt động, như nó thỉnh thoảng hoạt động ngày nay, trong các hoàn cảnh tương đối an toàn, có an ninh, tự do, vệ sinh, và có sự tự quản.”

Tôi muốn nhấn mạnh cụm từ “có thể tưởng tượng” trong nhận xét nói trên của Overall.

Cuốn sách này có thể được đọc như là một bước đầu trong việc tưởng tượng ra một thứ giúp thay thế cho cách mà chúng ta vẫn hiểu thông thường về mại dâm – tức là, một hiện trạng mà trong đó công việc tình dục được miêu tả là “tương đối an toàn, có an ninh, tự do, vệ sinh, và có sự tự quản.”

Phần lớn các hệ thống mại dâm hợp pháp đang tồn tại đã có một mức độ thành công nhất định trong việc đạt được một hay nhiều hơn các mục tiêu nói trên, đối với một số loại người làm công việc tình dục nhất định. Tuy nhiên, chưa có hệ thống nào là đạt được đầy đủ các yếu tố lý tưởng nói trên.

Hợp pháp hóa và quan hệ giữa các giới tính

Trong tất cả các hệ thống mại dâm hợp pháp mà tôi biết, chính phủ thường chú tâm gần như hoàn toàn vào những người phụ nữ bán dâm.

Các quy định luật pháp được áp dụng chủ yếu cho phụ nữ, trong khi những người làm công việc tình dục là nam giới và những người quản lý họ lại thường bị hệ thống giám sát đẩy ra rìa.

Có thể nói rằng những người mại dâm nam như vậy được hưởng lợi từ việc phi hình sự hóa tại các nước đó, nhưng họ lại không hề được luật pháp và các biện pháp quản lý động chạm tới.

Sự thành kiến giới tính này phản ánh các tranh luận lớn hơn về các chính sách quản lý mại dâm, vốn xoay quanh mối quan hệ giữa những người nữ bán dâm và các khách hàng nam giới của họ.

Nhiều nhà phê bình đang phớt lờ những người nam giới làm công việc tình dục trong các phê bình của họ rằng việc hợp pháp hóa mại dâm việc (thông qua việc chính phủ đóng dấu hợp pháp lên ngành mại dâm) chính là đang góp phần phê chuẩn và bình thường hóa việc sử dụng nữ giới cho các mục đích tình dục của nam giới.

Vậy nên, bất kể các lợi ích thực tế của việc hợp pháp hóa mại dâm, một số người sẽ luôn từ chối việc hợp pháp hóa chỉ vì việc này có vẻ là một hành động mang tính biểu tượng khẳng định một số thứ, bao gồm: việc tiếp cận thân thể nữ giới của nam giới, hay cái ý niệm rằng đàn ông có “quyền” hợp pháp mua dâm từ những người phụ nữ vốn trong hoàn cảnh bình thường sẽ chẳng sẵn sàng quan hệ với họ.

Các nhà phê bình tranh luận rằng sự tồn tại của mại dâm nói chung và mại dâm hợp pháp nói riêng đang biến phụ nữ thành hàng hóa, và làm sâu đậm thêm sự vật hóa (objectification) nữ giới trong văn hóa nói chung.

Chúng ta đã chứng kiến sự tình dục hóa (sexualization) phát triển một cách vững chắc trong văn hóa phương Tây trong hơn hai thập niên qua. Tình dục hóa biểu hiện qua thái độ sẵn sàng quan hệ tình dục, sự xuất hiện của các môn nghệ thuật khiêu dâm mới, sự phát triển của thị trường đồ chơi tình dục, và sự sinh sôi nảy nở của các chủ đề tình dục trong âm nhạc, phim ảnh, truyền hình và quảng cáo thương mại.

Bất kể chúng ta nghĩ gì về các xu hướng nói trên, rõ ràng là chúng không hề được phát động hoàn toàn bởi nam giới; nữ giới cũng tích cực tham gia.

Trong chừng mực là sự tình dục hóa văn hóa nhan nhản này có vai trò làm mạnh mẽ thêm mối quan tâm đến tình dục trong xã hội, bất kể là tình dục có trả phí hay không trả phí, thì có thể lập luận rằng các xu hướng nói trên không là những điềm báo tốt lành cho việc bài trừ các công việc tình dục.

Nếu đúng sự tình dục hóa văn hóa làm mạnh mẽ thêm mối quan tâm đến tình dục của xã hội, thì mại dâm sẽ tiếp tục tồn tại, cho dù là hợp pháp hay không.

Theo đó, vấn đề chính là phải tìm cách giảm thiểu thiệt hại và tìm cách trao quyền (empowerment) tối đa trong phạm vi có thể cho những người làm công việc tình dục

Việc hình sự hóa mại dâm không thỏa mãn điều nào trong hai mục tiêu trên, như giới hoạt động nữ quyền đã nhận ra: Tổ chức nữ quyền hàng đầu của Mỹ, Hội Vì Nữ giới Quốc gia (National Organization for Women – NOW) đã thông qua một nghị quyết phi hình sự hóa từ nhiều thập niên trước.

Nghị quyết đó tuyên bố rằng NOW “chống đối các luật lệ cấm đoán liên quan đến mại dâm, và tin tưởng rằng chúng mang tính trừng phạt”, và “theo đó, ủng hộ việc bãi bỏ tất cả các luật lệ liên quan đến mại dâm”.

Giờ thì tôi tiến tới xem xét các khía cạnh thực dụng của các hệ thống mại dâm hợp pháp.

Những người phê phán việc hợp pháp hóa mại dâm đang quá chú tâm vào vấn đề vật hóa (objectification) phụ nữ? – Ảnh: Mario De Biasi/luag.org.

Các quy phạm tham khảo

Hiếm khi nào người ta đặt vấn đề rằng có thể xác định các tiêu chuẩn vàng để áp dụng vào tất cả các hệ thống mại dâm hợp pháp hay không.

Hình mẫu lý tưởng “mại dâm lành mạnh” (sound prostitution) của [nhà triết học] Lars Ericsson có các yếu tố sau: hợp pháp, tự nguyện, chỉ dành cho người trưởng thành; đảm bảo rằng những người làm việc tình dục cũng có những quyền như người lao động làm các công việc khác; và phải được xóa dị nghị (destigmatized) và được công nhận là một hình thức đảm trách “một vai trò xã hội có giá trị” thông qua việc “làm giảm sự khốn khổ về tình dục trong xã hội.”

Đây là các nguyên tắc chung, vốn có thể được phân biệt với các thách thức thực tế phải gặp khi tìm cách hiện thực hóa chính các nguyên tắc đó.

Mỗi quốc gia đã hợp pháp hóa mại dâm đều đã triển khai một mô hình khác với các quốc gia còn lại. Cũng có những sự giao thoa giữa các hệ thống, nhưng phần lớn các thử nghiệm hợp pháp hóa mại dâm đều đã diễn ra trong khuôn khổ riêng của mỗi quốc gia.

Việc này để mở các câu hỏi là: chúng ta có thể xác định một nhóm các “quy phạm tiêu chuẩn” (best practices) mang tính chung nhất hay không, và các tiêu chuẩn để đánh giá một hệ thống lập quy quản lý mại dâm là các tiêu chuẩn nào.

Một số nhà nghiên cứu khi thảo luận chính sách mại dâm thường chú tâm hoàn toàn vào mong muốn của những người làm công việc tình dục. Những người làm công việc tình dục đúng là yếu tố trọng tâm quyết định thành bại của bất kỳ hệ thống nào, nhưng quan trọng là các cải cách cũng phải tính đến (nhưng không bị quyết định bởi) lợi ích và mong muốn của tất cả các bên có liên quan – người dân địa phương, chủ doanh nghiệp tình dục, người làm công việc tình dục, quan chức có trách nhiệm giữ gìn trật tự, hệ thống an sinh và y tế xã hội.

Qua việc xem xét các mô hình hợp pháp hóa tệ nạn đã trình bày trong chương 4, cũng như phân tích của tôi về các hệ thống mại dâm hợp pháp hiện hành, tôi xin đưa ra các nhóm tiêu chuẩn sau.

Các nhóm tiêu chuẩn này không hẳn là toàn diện, nhưng chúng xử lý được các vấn đề trọng tâm:

  • hiện diện công cộng (visibility),
  • tư cách hành nghề (eligibility),
  • sức khoẻ (health),
  • quyền (rights),
  • an toàn (safety), và
  • tái thẩm định chính sách và chế tài thi hành (policy review and enforcement).

Xuất phát điểm là: công việc mại dâm của những cá nhân trưởng thành làm việc có đồng thuận phải được chính thức công nhận là một ngành nghề (work) và những người tham gia ngành nghề này phải được hưởng các quyền lợi và các hình thức bảo vệ như những người tham gia các ngành nghề khác.

Hiện diện công cộng (visibility)

  • Giảm thiểu sự hiện diện của mại dâm tại những nơi công cộng và sự xâm lấn không gian của những ai không tham gia ngành nghề này.Những người nào ủng hộ việc hợp pháp hóa không giới hạn sẽ tranh luận rằng việc giảm tối đa hiện diện như thế đi ngược lại mục tiêu bình thường hóa, nhưng tôi lập luận rằng giữ cho mại dâm càng kín đáo càng tốt là một mục tiêu quan trọng hơn, bởi vì có rủi ro của sự chống đối nếu như khu vực tình dục trở nên quá lộ liễu gây khó chịu (too obtrusive). Giữ cho mại dâm kín đáo sẽ giảm rủi ro người dân thường và các nhóm khác vận động đòi hình sự hóa mại dâm trở lại. Một lợi thế khác là việc những người làm công việc tình dục sẽ ít bị công chúng dòm ngó và dè bỉu hơn.

Tôi phải lưu ý rằng điểm này tốt nhất là áo dụng cho các hệ thống hợp pháp hóa mới có, tại những nơi chưa có sẵn các khu vực “đèn đỏ” nhất định. Điểm này kém quan trọng hơn tại những nơi nào mà mại dâm đã tồn tại lâu dài trong một khu vực địa lý nhất định (từ trước cả khi chính thức hợp pháp hóa), ví dụ như khu quận “đèn đỏ” của thành phố Amsterdam, nơi mà thương mại tình dục đã hoàn toàn ăn sâu vào văn hóa địa phương và kinh tế du lịch địa phương ngay từ trước khi được chính thức hợp pháp hóa năm 2000.

Phố đèn đỏ ở Amsterdam – Ảnh: getyourguide.com

  • Nghiêm cấm các doanh nghiệp tình dục hoạt động gần trường lớp và sân chơi.
  • Thay vì để mại dâm được công khai ngoài đường thì để mại dâm trong các tòa nhà kín kẽ có các phòng riêng biệt – như các khách sạn kiêm nhà thổ ở Đức, hay các phòng có cửa sổ hướng bên trong nhà, hay tại các sân trong nhà như ở Hà Lan. Các tòa nhà đó có thể rõ ràng là các trung tâm thương mại tình dục, nhưng những người làm việc và khách hàng sẽ không bị nhìn thấy từ đường phố bên ngoài.
  • Mại dâm đường phố phải được ngăn chặn, thể theo nguyên tắc giảm thiểu sự hiện diện tại những nơi công cộng và những vấn đề kèm theo của mại dâm đường phố như đã bàn ở chương 3. Phần lớn các quốc gia đã phi hình sự hóa mại dâm đều vẫn cấm mại dâm đường phố bởi vì các vấn đề đi kèm tình trạng này. Khu vực mại dâm đường phố khó mà có thể được quản lý theo một cách giúp giảm thiểu thiệt hại, và theo một số nhà phân tích, tự thân nó đã là một vấn nạn.

Phân chia các khu vực đường phố mại dâm nhất định hiếm khi giải quyết được các vấn đề kèm theo ngay cả khi có các bảo đảm tiện nghi và an toàn, ví dụ như trường hợp các khu Tippelzones ở Hà Lan, phần lớn các khu này bây giờ đã đóng cửa. Mại dâm đường phố ở New Zealand và bang New South Wales (Úc) vẫn được cho phép nhưng bị quản lý bởi luật về tư nhiễu công cộng (public nuisance laws). Tuy nhiên, thị trường đường phố vẫn là vấn đề gây tranh cãi ở cả New Zealand và bang New South Wales, và những người làm công việc tình dục đường phố vẫn phải chịu nhiều rủi ro hơn những người làm công việc tình dục trong nhà.

  • Cũng theo nguyên tắc giảm thiểu hiện diện công cộng, không nên nghiêm cấm việc một hoặc hai người làm công việc tình dục hành nghề từ chính tư gia của họ, nhưng họ vẫn phải chịu quản lý bởi các luật liên quan đến tư nhiễu công cộng và một quy định cấm không được trưng biển quảng cáo ngay tại nhà. Nếu có nhiều hơn hai người làm công việc tình dục tại nhà riêng trong một khu dân cư thì số lượng khách hàng sẽ tăng và theo đó, sẽ có rủi ro tư nhiễu công cộng. Ý tưởng phi hình sự hóa những người làm công việc tình dục dạng cá thể đã có từ lâu. Đó là một trong các đề xuất của Ủy ban Wolfenden ở Anh 50 năm trước. Ngày nay, một số nước cho phép những người làm công việc tình dục cá thể hoạt động tự do.
  • Quảng cáo và biển hiệu nên thể hiện sự nhạy cảm với mức độ khoan dung của cộng đồng dân cư địa phương. Để giảm thiểu việc gây chướng tai gai mắt, nên cấm việc quảng cáo bằng biển hiệu khổng lồ, và biển hiệu của các doanh nghiệp tình dục nên được trình bày lịch sự kín đáo. Tại một số nơi, luật cấm trưng bày các hình thức khiêu dâm tục tĩu có thể là đủ để giới hạn các hình thức quảng cáo không phù hợp. Quảng cáo trên internet nên được cho phép, trong chừng mực là hình thức quảng cáo đó không bao gồm các mẩu quảng cáo pop-up hiện lên theo những cách không mong muốn. Hình thức quảng cáo này phải dựa vào việc người tiêu dùng chủ động tìm kiếm.

Tư cách hành nghề (eligibility)

  • Nghiêm cấm người vị thành niên hành nghề tình dục. Đây là một điểm mà các hệ thống tình dục hợp pháp đều có và nên là một nguyên tắc phổ quát. Tại nhiều nơi, giới hạn tuổi là phải từ 18 tuổi trở lên.
  • Không cho phép người vị thành niên có mặt tại các địa điểm thương mại tình dục (ví dụ, trẻ dậy thì tò mò, hay con cái của những người làm việc tình dục).
  • Thay vì trừng phạt những người bán dâm khi chưa đủ tuổi, chính phủ nên thiết kế các chương trình tạo điều kiện cho họ thoát ra khỏi việc bán dâm, xây dựng một mạng lưới kêu gọi và phát huy việc phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho những người bán dâm khi chưa đủ tuổi. Các mạng lưới và nguồn lực đó cũng nên sẵn sàng phục vụ những người làm công việc tình dục nào có mong muốn rời ngành.

Phố đèn đỏ ở Hong Kong – Ảnh: benlookworld.files.wordpress.com

  • Những người làm công việc tình dục không nên bị bắt phải đăng ký hay phải xin giấy phép hành nghề. Việc đòi đăng ký hay xin giấy phép hành nghề đều đã gặp vấn đề tại bất kỳ nơi nào đã thử làm các việc này.Như tổ chức NOW đã cảnh báo từ hàng thập niên trước, việc đăng ký bắt buộc “sẽ gây ra hậu quả là sự tiếp diễn của việc ngược đãi những phụ nữ nào không muốn đăng ký vì không muốn tuyên bố công khai là họ bán dâm.”

Các lo ngại khác bao gồm việc các thông tin cá nhân người đăng ký sẽ được sử dụng thế nào, bảo mật dữ liệu cá nhân ra sao, ai có quyền tiếp cận thông tin, và các dữ liệu đó sẽ được xử lý ra sao khi một người không bán dâm nữa. Nói tóm lại, việc bắt đăng ký có tiềm năng làm trầm trọng thêm những dị nghị về mại dâm và sẽ bị phản đối bởi một số lượng lớn những người làm công việc tình dục, những người vốn không có lựa chọn nào khác ngoài việc bán dâm bất hợp pháp và theo đó trở nên mẫn cảm với rủi ro hơn.

  • Các doanh nghiệp kinh doanh tình dục phải có giấy phép hoạt động giống như bất kỳ doanh nghiệp nào khác. Điều này áp dụng cả với các nhà thổ, tiệm mát-xa, và các công ty dịch vụ tháp tùng (escort services). Giấy phép hoạt động phải được trưng bày công khai tại cơ sở để khách hàng biết được là doanh nghiệp hợp pháp hay không.
  • Phải có kiểm tra cẩn thận lai lịch những ai là chủ quản các doanh nghiệp kinh doanh tình dục để xác định là họ có tiền án tiền sự liên quan đến hút chích, gian lận tài chính, cưỡng ép, hay bạo lực hay không. Một tiền án, tiền sự cho một trong những tội danh như thế phải là lý do từ chối cấp phép kinh doanh.

Các tội danh liên quan đến mại dâm vốn có từ trước khi mại dâm được hợp pháp hóa thì lại không nên bị dùng để chống lại những người đang kinh doanh trong hệ thống mới (ví dụ, việc từng quản lý một nhà thổ trái phép trong quá khứ không nên bị xem là có liên quan đến việc có nên cho phép quản lý nhà thổ hợp pháp trong hiện tại hay không.)

Trái với hiện trạng ở Hà Lan bây giờ, nghĩa vụ chứng minh (burden of proof) lẽ ra không nên được đặt lên vai những người xin giấy phép, và họ không nên bị từ chối cấp phép đơn giản vì nhà chức trách nghi ngờ họ có hoạt động bất hợp pháp. Nhà chức trách phải chứng minh được là người xin giấy phép đã phạm tội.

  • Phải tiến hành các cuộc kiểm tra đột xuất theo định kỳ tại các doanh nghiệp kinh doanh tình dục để đảm bảo các doanh nghiệp tuân thủ quy định luật pháp.Các lực lượng cảnh sát, quản lý ý tế và quản lý xây dựng nên tiến hành các kiểm tra đột xuất này theo một cách thường lệ và chuyên nghiệp; họ không nên dùng cách đột kích lớn với trang bị vũ khí kiểu bán quân sự như đã diễn ra tại một số thành phố ở Đức.
  • Nếu như có một ủy ban phụ trách việc cấp phép, vai trò của ủy ban này phải được giới hạn vào việc nhận hồ sơ, kiểm tra lai lịch người xin giấy phép, và thẩm tra việc kiểm tra đột xuất của các cơ quan chức năng khác tại các địa điểm được cấp phép.

Các tiêu chuẩn cấp phép phải rõ ràng – không nên có những yếu tố mù mờ như “danh tiếng” của người xin giấy phép như tại bang Queensland (Úc).Cơ quan cấp phép không nên có vai trò tư vấn chính sách, cũng như tình trạng tại bang Queensland nơi luật quy định là cơ quan cấp phép kinh doanh tình dục cũng phải tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp về nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm cách làm giảm số người hành nghề tình dục trong bang.

Chức năng tư vấn chính sách này có vẻ khiến cơ quan cấp phép dè dặt hơn trong việc cấp phép, góp phần giải thích tại sao có quá ít giấy phép kinh doanh tình dục được cấp tại bang Queensland.

  • Một cơ cấu pháp lý hai lớp – một cho khu vực hợp pháp, một cho khu vực phi pháp – được sử dụng phổ biến trong các hệ thống pháp luật mại dâm hiện hành.Tuy nhiên quy mô mỗi khu vực lại bị ảnh hưởng bởi các dạng quy định luật pháp được áp dụng. Quy định luật pháp càng đỡ nặng nề và đỡ tốn kém chi phí thi hành bao nhiêu thì quy mô của khu vực phi pháp lại càng nhỏ bấy nhiêu (ở New Zealand gần như không có khu vực phi pháp).

Khi các quy định luật pháp quá dàn trải, tốn kém để tuân thủ và thi hành, có tác dụng làm nặng thêm dị nghị, hay bị xem là độc đoán và phân biệt đối xử so với các ngành nghề kinh doanh khác, thì người ta sẽ càng có nhiều cám dỗ “lách luật” và hoạt động trái phép.

Chi phí xin giấy phép và chi phí để tuân thủ quy định pháp luật không nên cao đến mức buộc những người hoạt động phải bỏ khu vực thị trường hợp pháp, như đã xảy ra ở bang Queensland. Các chi phí này chỉ nên ngang ngửa các chi phí tương tự của các ngành nghề kinh doanh khác: không nên có một dạng “thuế” đặc biệt, một dạng “thuế đánh lên tội lỗi”.

Ngược lại, một hệ thống luật pháp đơn giản hóa tối đa lại có thể gây phiền toái. Như trường hợp nước Đức: chính phủ Đức đã nhận xét rằng luật hợp pháp hóa mại dâm năm 2002 của họ chỉ đạt được các mục tiêu lập pháp “theo một mức độ giới hạn” và rằng họ “cần phải có một cách tiếp cận rộng hơn trong việc quản lý mại dâm.”

Cho dù số lượng tội phạm liên quan đến mại dâm đã giảm từ năm 2002, luật Đức không bắt buộc các chủ doanh nghiệp kinh doanh tình dục phải cung cấp điều kiện làm việc ổn thỏa (về vệ sinh và an toàn) trong các cơ sở của họ. Một hệ thống tự do kinh doanh (laissez-faire) có thể gây ra tình trạng thiếu bảo đảm và thiếu quản lý, tước đoạt quyền năng của những người làm công việc tình dục.

Phố đèn đỏ ở Hamburg (Đức) – Ảnh: Getty Images.

Sức khoẻ (health)

  • Khuyến khích, cổ xúy các hình thức tình dục an toàn, như sử dụng bao cao su. Cho dù khó cưỡng chế thi hành, các hình thức tình dục an toàn phục vụ quyền lợi của tất cả các bên có liên quan và góp phần đảm bảo y tế công cộng nói chung. Giới chức trách quản lý y tế nên tiến hành các chương trình giáo dục phổ cập về thực hành tình dục an toàn dành cho những người hành nghề, khách hàng, người quản lý doanh nghiệp, như người ta vẫn đang làm tại các hệ thống đã hợp pháp hóa mại dâm hiện nay.
  • Việc kiểm tra y tế thường xuyên nên được khuyến khích nhưng không bắt buộc và dịch vụ kiểm tra y tế nên được miễn phí cho những người hành nghề (giống như hiện nay tại nhiều nước đã hợp pháp hóa mại dâm). Việc kiểm tra bắt buộc để ngăn ngừa các bệnh tình dục dễ lây lan thường không phải lúc nào cũng đưa ra các kết quả chính xác. Kết quả âm tính trong một ngày nhất định có thể tạo ra ảo giác là người được kiểm tra hoàn toàn khỏe khoắn về mặt tình dục kể cả sau đó. Tuy nhiên, người hành nghề (và khách hàng) vẫn nên được khuyến khích kiểm tra định kỳ và thường xuyên thực hành tình dục an toàn.

Quyền (rights)

  • Đảm bảo những người hành nghề có quyền từ chối thực hiện một hành vi tình dục hay từ chối phục vụ một người bất kỳ nào đó. Các quyền này phải được ưu tiên so với quyền của khách hành và quyền của chủ doanh nghiệp. Bên thuê người hành nghề tình dục phải chịu trách nhiệm đảm bảo là không có cưỡng bức và quấy rối trong phạm vi cơ sở của họ.
  • Nghiêm cấm phân biệt đối xử với người hành nghề và những người quản lý doanh nghiệp kinh doanh tình dục. Ví dụ như chính sách từ chối có hệ thống của các ngân hàng Hà Lan đối với bất kỳ ai xin vay tiền mà có tham gia vào ngành công nghiệp tình dục, khiến cho những người này phải tìm đến các nguồn tài chính khác (vốn có lẽ mờ ám).
  • Quy định thuế không nên có hiệu lực hồi tố. Người hành nghề và chủ doanh nghiệp kinh doanh tình dục nên được miễn các loại thuế vốn phải trả trong giai đoạn trước khi hợp pháp hóa mại dâm.
  • Xóa bỏ án tích của các cá nhân nào từng vi phạm các tội liên quan đến tình dục bị kết án trước khi có chính sách hợp pháp hóa, giải phóng họ khỏi dị nghị từ tiền án, tiền sự.

An toàn (safety)

  • Tăng nặng các hình thức xử phạt dành cho những ai lạm dụng lao động tình dục. Việc lạm dụng này bao gồm các hình thức bạo lực từ khách hàng, chăn dắt bóc lột, lạm dụng tình dục bởi chủ doanh nghiệp, và các hình thức cưỡng bức hay lừa đảo buôn người. Liên quan đến chăn dắt (pimping), các quy định luật pháp vốn hình sự hóa hành vi “sống dựa vào thu nhập của một người bán dâm” nên được bãi bỏ, vì những quy định này có thể áp dụng chống lại cả người yêu (không lạm dụng), bạn, hay chồng của một người hành nghề.

Sự trừng phạt nên dành cho những ai dùng bạo lực và cưỡng bức bóc lột người hành nghề – ví dụ như bắt một người phải làm việc trong những giờ nhất định, phải làm ra một số tiền nhất định trước khi được phép nghỉ, hay phải thực hiện một số hành vi tình dục họ không muốn thực hiện, v.v.

  • Thiết lập các hệ thống khai báo chống nạn lạm dụng bằng cách giáo dục giới cảnh sát và các cơ quan chức năng đối xử với người bán dâm như những con người có quyền đàng hoàng, những con người mà nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ. Việc này bao gồm đào tạo về ứng xử nhạy cảm dành cho tất cả các viên chức nào trong phạm vi công vụ phải tiếp xúc với những người hành nghề tình dục hợp pháp.

Việc này cũng cần phải có một sự thay đổi hệ hình (paradigm shift) thay đổi chính cách nhìn xem những người hành nghề tình dục là biến thái, hay xem mại dâm là một nghành nghề vô đạo đức. Quá trình làm việc này có thể khá dài vì mại dâm đã có một lịch sử lâu dài bị đẩy ra rìa và hứng chịu điều tiếng. Chúng ta có thể sẽ gặp một số sự ì trệ về văn hóa (cultural lag) – tức là khoan dung xã hội và thái độ chấp nhận hình thành chậm hơn hơn các cải cách pháp lý rất nhiều – tuy nhiên, tại những nơi mà mại dâm đã được hợp pháp hóa, quan trọng là các nhà chức trách tập làm quen với việc xem mại dâm như một ngành nghề kinh doanh bình thường.

  • Thiết lập các đường dây nóng cho khách hàng và người hành nghề để họ khai báo với cảnh sát các biểu hiện lạm dụng người hành nghề tình dục. Tại Hà Lan hiện có một đường dây nóng như thế.

Tuần hành phản đối hình sự hóa mại dâm ở Mỹ – Ảnh: thenationreport.org

Tái thẩm định chính sách và chế tài thi hành (policy review and enforcement)

  • Chính phủ nên tài trợ cho các đợt tái thẩm định chính sách định kỳ đối với các luật lệ và chính sách liên quan đến mại dâm và liên quan đến việc áp dụng thi hành các luật lệ và chính sách này. Chính phủ nên giải quyết bất cứ vấn đề gì mà các cuộc tái thẩm định này phát hiện được.
  • Nếu việc thẩm định được thực hiện bởi một cơ quan sẵn có (như Bộ Tư pháp) thì đại diện của ngành công nghiệp tình dục (cả những người hành nghề và giới chủ doanh nghiệp) nên được tham vấn trong quá trình tái thẩm định đó. Một cách tổ chức nên làm là tạo ra một cơ quan quản lý riêng biệt có chuyên môn cụ thể về ngành công nghiệp tình dục. Việc này giúp đảm bảo là quyền lợi của giới chủ doanh nghiệp và người hành nghề đều được suy tính đến trong các thảo luận về luật pháp, chính sách, chế độ quản lý, và chế tài thi hành.

Như một ủy ban quản lý của Canada đã nhấn mạnh, “người hành nghề tình dục nên được xem là những chuyên gia trong bất kỳ quyết định nào liên quan đến luật và chính sách ảnh hưởng đến ngành công nghiệp tình dục”. Ủy ban Thẩm định Luật Mại dâm New Zealand thì bao gồm cả viên chức chính chủ, chủ doanh nghiệp kinh doanh tình dục, và đại diện từ tổ chức Tập thể Người hành nghề mại dâm New Zealand (New Zealand Prostitutes’ Collective).

  • Trong một hệ thống hợp pháp hóa mại dâm mới, quan trọng là những người hành nghề mại dâm và giới chủ doanh nghiệp kinh doanh tình dục phải được thông tin đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ theo luật pháp của họ, và việc đảm bảo thông tin đầy đủ này là trách nhiệm của chính phủ.
  • Quy định luật pháp là một chuyện, áp dụng thi hành là chuyện khác. Quan trọng là các nhà chức trách thật sự thi hành tất cả luật lệ đã có và đồng thời họ có nguồn lực để làm việc này…”

Bìa sách “Hợp pháp hóa mại dâm: Từ tệ nạn bị cấm đoán trở thành việc kinh doanh hợp pháp” của tác giả Ronald Weitzer – Ảnh: Amazon

Tìm đọc thêm:

Bạn có biết...

... Luật Khoa là một tạp chí độc lập và phi lợi nhuận. Với mong muốn mang lại trải nghiệm đọc báo tốt nhất cho bạn đọc, chúng tôi không đặt quảng cáo và do đó không có doanh thu. Luật Khoa chi trả mọi chi phí bằng các khoản đóng góp của bạn đọc.

Mỗi ngày, các phóng viên, biên tập viên và cộng tác viên của Luật Khoa đều tận tâm với từng con chữ và từng mối quan tâm của bạn đọc, nhằm mang lại cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ và đa chiều về những vấn đề pháp luật, chính trị.

Nếu tất cả bạn đọc đều đóng góp cho Luật Khoa, dù là 20 nghìn đồng, tờ báo độc lập và khai phóng này của chúng ta sẽ hoạt động hiệu quả và bền vững hơn rất nhiều. Mỗi đồng bạn đóng góp đều giúp cho Việt Nam của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn, và bạn chỉ mất một phút để trở thành nhà tài trợ của Luật Khoa. Xin cảm ơn.





Bình luận

Luật Khoa tạp chí là một ấn phẩm về pháp luật, ra đời ngày 05/11/2014, có mục đích cung cấp thông tin và kiến thức pháp lý cho cộng đồng, thảo luận về các vấn đề pháp lý cũng như các sinh hoạt chuyên môn của giới hành nghề luật và sinh viên luật, thúc đẩy việc học tập và nghiên cứu pháp luật ở Việt Nam.

Tổng biên tập: Trịnh Hữu Long

Gửi bài - Bản quyền: Bạn có thể gửi bài cho Luật Khoa qua địa chỉ email: editor@luatkhoa.org. Chúng tôi thanh toán nhuận bút trong vòng 15 ngày kể từ khi bài được đăng.

Tất cả các bài viết trên Luật Khoa đều là bài gốc. Bạn đọc có thể tự do sao chép, trích dẫn bài viết mà không cần hỏi ý kiến Luật Khoa, chỉ cần ghi rõ nguồn.

To Top