Connect with us

Quốc tế

Nền chuyên chế Singapore – Kỳ 2: Huyền thoại về “thế lực thù địch”

Published

on

Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu. Ảnh: Chưa rõ nguồn.

Dịch từ bài “Justifying Colonial Rule in Post-Colonial Singapore” của tác giả Thum Ping Tjin, được đăng trên New Naratif ngày 9/9/2017. Thum Ping Tjin là giám đốc điều hành của New Naratif, đồng thời là nghiên cứu viên về Đông Nam Á tại Đại học Oxford (Anh).

Tựa chính, tựa phụ và cách chia kỳ do Luật Khoa tạp chí đặt.


Kỳ 1: Lược sử: “Để biện minh cho việc chính quyền kiểm soát đời sống vật chất và tinh thần của người dân, cả chính quyền thuộc địa Anh và chính phủ PAP đều chủ yếu dựa vào ba huyền thoại trọng tâm về sự mong manh của Singapore [hay là huyền thoại về “thế lực thù địch], về mục tiêu phát triển Singapore, và về chế độ nhân tài nước này.”

Kỳ 2: Huyền thoại về “thế lực thù địch”

Nằm ở vị trí trung tâm trong các mạng lưới vận chuyển và mạng lưới trí thức của cả khu vực và thế giới, Singapore là nơi các ý thức hệ và các trường phái chính trị đối lập tranh giành ảnh hưởng với nhau. Singapore là một địa điểm mấu chốt trong hệ thống phòng thủ các khu vực của Anh quốc tại Đông Nam Á, Úc, và New Zealand. 

Năm 1915, nhiều cuộc nổi loạn xảy ra tại Ấn Độ. Đặt cạnh phong trào chống thuộc địa đang lên ở đất nước này, người ta càng thấy rõ rằng Singapore thật dễ bị ảnh hưởng bởi các luồng chính trị ngoại quốc, và chủ quyền của lãnh thổ nhỏ bé này quả thật mong manh. Từ bối cảnh đó, nền tảng hay phiên bản gốc của khái niệm “mối đe dọa an ninh với Singapore” được hình thành. Nền tảng đó xác định: “Hiểm họa của Singapore đến từ bên ngoài, bắt nguồn từ các tổ chức ngoại quốc với mưu tính lật đố các quyền lực thuộc địa”. Tư tưởng chính của các nhà chức trách an ninh cho rằng “các hành động nổi loạn đều gần như hoàn toàn là kết quả của các âm mưu từ bên ngoài.” 

Nguồn cơn của bất mãn được xác định ngay từ gốc rễ là không phải do sai sót gì của giới cầm quyền thuộc địa. Trái lại, nguy cơ đó được xem là đến từ nước ngoài, mang tính phản loạn và gây ra chết chóc. 

Quan điểm này được dùng để đánh giá mọi hành động phản kháng chống lại chính quyền Singapore sau này, suốt từ 1930 đến 1960, bất kể đó là hoạt động công đoàn, các hoạt động theo chủ nghĩa quốc gia, theo chủ nghĩa cộng sản, theo chủ nghĩa xã hội, hay theo chủ nghĩa chống thực dân.

Một cuộc bạo loạn sắc tộ ở Singapore năm 1964. Ảnh: Pinterest.
Một cuộc bạo loạn sắc tộ ở Singapore năm 1964. Ảnh: Pinterest.

Ngay cả trong giai đoạn độc lập, các bất mãn do các cuộc khủng hoảng kinh tế của những năm 1970 và do các chính sách không hợp lòng dân của chính quyền Singapore trong những năm 1980 đến nay cũng được nhìn nhận trong cùng lăng kính đó: xuất phát từ các thế lực bên ngoài.

Trong Giai đoạn Tình trạng khẩn cấp Malaya, cách diễn giải hiểm họa an ninh đó tạo ra một lý do biện minh cho việc áp dụng thiết quân luật, vốn bao gồm việc ngừng suy tôn pháp quyền, cho phép bắt bớ người mà không cần giải trình, và không tuân thủ chuẩn mực tố tụng.  

Tình trạng náo động tăng cao của giới lao động đã đe dọa ổn định chính trị và lợi ích tư bản. Tình trạng náo động đó có nguyên do từ các ảnh hưởng kinh tế xã hội của thời kỳ phát-xít Nhật chiếm đóng, từ việc tái áp đặt chế độ thực dân Anh, và từ sự dâng cao của phong trào chống thực dân của người Malaya. 

Cho dù không hề có bằng chứng nào cho thấy có tồn tại một âm mưu ở mức cơ bản của Đảng Cộng sản Malaya (MCP), chính quyền thuộc địa Anh vẫn đã ra lệnh cấm đảng này hoạt động từ tháng 07/1948, “không phải bởi vì chính quyền Anh có bằng chứng không thể phủ nhận là có tồn tại một âm mưu lật đổ của phe cộng sản, hay bởi vì chính quyền Anh có lợi ích trong việc bịa ra một âm mưu như thế, mà bởi vì chính quyền Anh muốn gây dựng lại lòng tin vào thể chế thuộc địa.”

Đảng Cộng sản đã hoàn toàn chẳng có ảnh hưởng gì đến đời sống của đa số người dân Singapore, ngoại trừ vai trò của họ như là một “ông kẹ” được các nhà chức trách thuộc địa dùng để dọa dẫm người dân. 

Các tài liệu của Cơ quan Điều tra Đặc biệt cho thấy Đảng Cộng sản chưa bao giờ gây dựng được chỗ đứng đáng kể ở Singapore (như họ đã gây dựng được ở các khu vực Malaya khác). Những người cộng sản này cũng không thực sự có khả năng điều khiển các đồng minh cánh tả của họ – những người thường có động cơ chính trị đa dạng và hoạt động hoàn toàn độc lập với Đảng Cộng sản.

Đảng Cộng sản bị Cơ quan Điều tra Đặc biệt săn đuổi, cuối cùng bị tận diệt và hoàn toàn biến mất trên chính trường Singapore từ năm 1950.  

Đảng Cộng sản càng bị cắt bỏ vây cánh ở Singapore thì chính quyền thuộc địa lại càng phải vẽ thêm ra các bức tranh bạo loạn cộng sản rộng hơn, lớn hơn. Họ vẫn cần phải tự biện minh cho việc kiểm soát xã hội và kiểm soát chính trị ngày càng sâu rộng.

Phạm vi của các hành động “phản động” và gây chết chóc theo đó cũng được chính quyền thuộc địa mở rộng. Tháng 09/1956, nhằm biện minh cho việc đàn áp phong trào chống thuộc địa đang lớn mạnh, Giám đốc Cơ quan Điều tra Đặc biệt Alan Blades và Thống đốc Singapore William Goode đưa ra một định nghĩa mới về chủ nghĩa cộng sản. Đó là: bất kỳ hành vi phản kháng chính quyền nào. 

Blades và Goode lập luận rằng thông qua việc động viên tinh thần nổi loạn, các hành vi phản kháng làm suy yếu uy quyền chính phủ và theo đó hỗ trợ cho các mục đích của các phe nhóm cộng sản. Blades đề xuất phải bắt giữ bất kỳ ai “cư xử như một người cộng sản”.

“Khi mà khả năng kháng cự tự nhiên của chúng ta chưa có, thì chúng ta cần gấp rút đẩy mạnh việc mở rộng các biện pháp đàn áp, bao gồm việc giam giữ và trục xuất tất cả những ai có hành tung giống một đảng viên cộng sản, bất kể người đó có liên kết với MCP hay không. Hội Tam Hoàng đã bị luật pháp cấm. Phe cộng sản cũng ác độc không kém và thậm chí còn nguy hiểm hơn. Các hành vi cộng sản phải bị cấm đoán hoàn toàn.”

Với chính sách như thế, chính quyền thuộc địa Anh tiến hành bắt và giam giữ không xét xử hơn 300 người với cáo buộc phản động, từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1956. Các vụ bắt giữ này đã được xem là bằng chứng cho thấy có tồn tại một âm mưu cộng sản, theo đó thúc đẩy nhu cầu phải có các hành vi đàn áp khác trong tương lai. 

Tương tự, chiến dịch Coldstore cũng đã được biện minh trước công chúng là một chiến dịch bảo vệ an ninh nội địa. Và cũng vẫn thế, các tài liệu chính quyền Anh liên quan đến Coldstore cho thấy rằng đã không hề có một bằng chứng nào về một âm mưu cộng sản hay một hành động trái pháp luật nào đó. Các cuộc điều tra sau bắt giữ cũng không tìm ra được bất kỳ bằng chứng nào của một âm mưu lật đổ chính quyền. 

Thủ tướng Lý Quang Diệu gặp gỡ với các nhóm dân cư trong cuộc khủng hoảng năm 1964. Ảnh: Strait Times.
Thủ tướng Lý Quang Diệu gặp gỡ với các nhóm dân cư trong cuộc khủng hoảng năm 1964. Ảnh: Strait Times.

Giới lãnh đạo đảng PAP chủ động hợp tác với chính quyền thuộc địa Anh và chính quyền Liên bang Malaya trong chiến dịch Coldstore, giúp mở rộng thêm các huyền thoại do người Anh tạo ra về một mối hiểm họa cận kề Singapore. 

Phản động cộng sản tiếp tục được dùng làm lý do biện minh cho việc bắt giữ không xét xử sau chiến dịch Coldstore. Các vụ bắt giữ tăng cao nhất trước các kỳ tổng tuyển cử năm 1968, 1972, 1976, 1980, và 1988.

Lần nào cũng thế, việc bắt giữ được biện minh là cần thiết để ngăn chặn các hành động phản loạn vốn do các thế lực bên ngoài giật dây. Ví dụ, các vụ bắt giữ năm 1987 được biện minh là để ngăn chặn một “âm mưu của phe theo chủ nghĩa Marx” vốn được giật dây điều hành từ London. Chính quyền Singapore chưa hề đưa ra được bằng chứng nào để giải thích các vụ bắt giữ đó, và cũng không có người bị bắt giữ nào bị đưa ra buộc tội trước tòa. 

Trong cái huyền thoại hay được đảng PAP kể về sự mong manh của Singapore trước tấn công quân sự từ nước ngoài, cuộc xâm lăng và chiếm đóng của phát-xít Nhật hay thường được viện dẫn như một bằng chứng không thể chối cãi. 

Tuy nhiên, việc Singapore thất thủ hồi đó đã gây bất ngờ chính là bởi vì Singapore không hề là một vị trí dễ bị thất thủ. Trái lại, Singapore là một địa điểm chủ chốt được phòng thủ kỹ càng của quân đội Anh tại Đông Nam Á. Nó chính là địa điểm vững mạnh nhất trong các thuộc địa của người Anh. 

Nhật Bản có cả một cỗ máy chiến tranh khổng lồ. Cỗ máy đó đã hủy diệt Trân Châu Cảng, xâm chiếm phần lớn diện tích Trung Quốc và Đông Nam Á, đánh bại cả các lực lượng quân đội thuộc địa Anh, Pháp, và Hà Lan đồng thời cầm chân quân đội Mỹ trong một thế giằng co kéo dài sáu tháng. Người Nhật đã phải tận dụng cả cỗ máy chiến tranh đó mới có thể chiếm được Singapore, và họ chiếm được cũng có phần do may mắn. 

Việc Singapore có vẫn đang mong manh trước các tấn công quân sự hay không là một chủ đề gây tranh cãi. Sau giai đoạn phát-xít Nhật chiếm đóng, và ngay cả trong một khoảng thời gian dài sau độc lập, an ninh lãnh thổ Singapore đã tiếp tục được bảo đảm bởi các lực lượng Anh, Úc, và New Zealand. Các lực lượng kết hợp của họ, vốn đã tham chiến trong Giai đoạn Tình trạng Khẩn cấp Malaya, và trong cuộc tranh chấp với Indonesia trong những năm đầu thập niên 1960, bao gồm 63.000 binh lính, hai hàng không mẫu hạm, 80 tàu chiến, 20 phi đội máy bay đóng tại Singapore. 

Khi Hoa Kỳ ngày càng can thiệp sâu rộng vào Việt Nam trong những năm 1960 và 1970, xuất khẩu từ Singapore sang Nam Việt Nam tăng mạnh. Người Mỹ vẫn tiếp tục ở lại Đông Nam Á khá lâu sau giai đoạn đó và họ đã đóng vai trò lực lượng ngăn ngừa cộng sản trong khu vực. Ngày nay, Hoa Kỳ vẫn có tàu thuyền hoạt động ngoài khơi Singapore. 

Cuối cùng, và có lẽ là quan trọng nhất, Lực lượng Quân sự Singapore (SAF) có năng lực quân sự vượt xa kích cỡ bé nhỏ của nước này. Các nhà phân tích đã gọi lực lượng này là “lực lượng quân sự hiệu quả nhất, có thể là mạnh mẽ nhất, của Đông Nam Á” và “lực lượng quân sự tinh vi nhất của Đông Nam Á”, đồng thời ghi chú thêm rằng các láng giềng Malaysia và Indonesia xem SAF là một mối nguy hiểm, chứ không phải là một lực lượng phòng thủ.

Trong bối cảnh đó, có thể tranh luận rằng Singapore về mặt phòng thủ quân sự không hề dễ tổn thương hơn phần còn lại của Đông Nam Á. Singapore có thể còn là nơi vững vàng nhất trong khu vực này. 


Kỳ 3 – Huyền thoại về “làng chài”
Kỳ 4 và hết – Huyền thoại về chế độ nhân tài

Bạn có biết...

... Luật Khoa là một tạp chí độc lập và phi lợi nhuận. Với mong muốn mang lại trải nghiệm đọc báo tốt nhất cho bạn đọc, chúng tôi không đặt quảng cáo và do đó không có doanh thu. Luật Khoa chi trả mọi chi phí bằng các khoản đóng góp của bạn đọc.

Mỗi ngày, các phóng viên, biên tập viên và cộng tác viên của Luật Khoa đều tận tâm với từng con chữ và từng mối quan tâm của bạn đọc, nhằm mang lại cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ và đa chiều về những vấn đề pháp luật, chính trị.

Nếu tất cả bạn đọc đều đóng góp cho Luật Khoa, dù là 20 nghìn đồng, tờ báo độc lập và khai phóng này của chúng ta sẽ hoạt động hiệu quả và bền vững hơn rất nhiều. Mỗi đồng bạn đóng góp đều giúp cho Việt Nam của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn, và bạn chỉ mất một phút để trở thành nhà tài trợ của Luật Khoa. Xin cảm ơn.