Connect with us

Dân chủ hóa

Đông Âu buổi giao thời và hậu quả của hơn 40 năm cộng sản

Published

on

Ảnh: Financial Times.

“Nếu chưa từng đến nha sĩ trong suốt 40 năm, hay thậm chí tệ hơn là 70 năm, việc chữa răng sẽ vô cùng đắt đỏ, dài hơi.”

Đó là lối ẩn dụ của Giáo sư William Outhwaite – một trong những ngòi bút đương đại nổi tiếng nhất chuyên viết về chính trị châu Âu – để mô tả tình trạng của các quốc gia châu Âu dưới tầm ảnh hưởng của Liên Xô sau khi khối chủ nghĩa xã hội sụp đổ. Là một thanh niên Việt Nam điển hình chưa từng đi nha sĩ cho đến năm 26 tuổi, người viết vô cùng thấu cảm trước ẩn dụ của Outhwaite. Vậy điều gì khiến cho một quốc gia cộng sản lại nghe có vẻ tệ đến thế?

Nền tảng chung

Trước khi tìm hiểu về chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu, có lẽ trước tiên cần xác định Đông Âu gồm những quốc gia nào. Ukraine, Cộng hòa Czech, Slovakia, Hungary, Ba Lan, Slovenia, Bulgaria và Romania là nhóm quốc gia cựu thành viên của khối xã hội chủ nghĩa thường được các nhà khoa học xác lập là nhóm thuộc Đông Âu. 

Việc định danh này loại trừ khá nhiều quốc gia thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản sau khi Liên Xô sụp đổ như Phần Lan, Latvia, Lithuania hay Estonia, mà theo phân tích của Richard Rose, là có kết nối văn hóa – chính trị nhiều hơn với các quốc gia Bắc Âu và luôn có xu hướng phản kháng chủ nghĩa cộng sản ngay từ thời điểm họ bị kéo vào chung thuyền với Liên Xô sau Đệ nhị Thế chiến. 

Ngoài ra, cũng có nhiều ý kiến cho rằng Phần Lan, Latvia hay Estonia vượt khỏi cái bóng Liên Xô để đạt mức độ tăng trưởng cao và tiến đến tiêu chuẩn chung của Liên minh Châu Âu khá dễ dàng. Việc nghiên cứu họ như là một thực thể còn chịu ảnh hưởng của Liên Xô có vẻ không công bằng đối với họ cho lắm. Trong bối cảnh của bài viết, Đông Đức cũng có thể được nhắc đến như một dẫn chứng gần gũi, dù quốc gia này có đặc trưng và lịch sử khá tách biệt với khu vực Đông Âu. 

Không phải điều gì xấu xa hay tồi tệ xảy ra tại Đông Âu hậu cộng sản đều là tàn dư của chế độ này. Giả dụ, trong nghiên cứu về hành vi chính trị (political behaviour) của người dân Đông Đức, các nhà nghiên cứu Mark Peffley và Robert Rohrschneider đi đến kết luận rằng nền chính trị hình thức và sự tham gia bắt buộc giả hiệu trong chế độ cộng sản là nguyên nhân khiến đa số người dân thờ ơ với chính trị thời hậu cộng sản, tỷ lệ đi bầu thấp. Cách lý giải này có vẻ rất hợp lý và thu hút được sự chú ý của những người đã có ác cảm sẵn với chính thể cộng sản. Tuy nhiên, nghiên cứu lại không lý giải được vì sao chỉ vài năm trước đó, trong giai đoạn 1989 – 1991, hàng triệu những người dân “thờ ơ với chính trị” này lại đồng lòng xuống đường biểu tình, dũng cảm đối mặt với khả năng bị quân đội đàn áp và từ đó tạo nên làn sóng công luận khổng lồ, chăm ngòi và thúc đẩy tiến trình tan rã của khối xã hội chủ nghĩa. 

Những tàn dư, hoặc di sản mà người viết thu thập và phân tích dưới đây hy vọng sẽ không đi vào vết xe “cái gì của cộng sản cũng đáng ghét”, từ đó có thể giúp cho người đọc có được cái nhìn toàn diện không chỉ về Đông Âu mà còn về tình trạng của Việt Nam hiện nay. 

Khối xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Ảnh: The Economist.

Khoảng trống quyền lực và sự trỗi dậy của tội phạm có tổ chức 

Một trong những tàn dư quan trọng và nguy hiểm nhất của sự thống trị của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu là chúng triệt tiêu gần như hoàn toàn các tổ chức chính trị có năng lực, có tổ chức chặt chẽ và có chuyên môn để có thể nhanh chóng cạnh tranh và thay nhau tiếp quản khoảng trống quyền lực mà đảng cộng sản để lại. Điều này tạo ra cơ hội cho một loại tổ chức có năng lực quản lý hiệu quả lợi dụng để trỗi dậy và tiếm quyền trên sân chơi chính trị – tội phạm có tổ chức, hay các băng đảng mafia. 

Thật vậy, dù sống khá lay lắt trong giai đoạn các đảng cộng sản còn tiền và quyền thế, sau khi chế độ sụp đổ, các băng đảng này lại là nơi tạo công ăn việc làm cho hàng loạt cựu chiến binh, cựu an ninh – tình báo viên hay các công chức có vị trí quản trị, lãnh đạo. Lý do là các công xưởng nhà nước phá sản, quỹ lương bị vỡ. 

Châm dầu vào lửa, các lãnh đạo trong quá trình chuyển tiếp tại Đông Âu (lẫn tại Nga) đã không lường trước được tầm quan trọng của một xã hội dân sự mạnh mẽ và năng động đối với một nền kinh tế thị trường thành công. Thay vì trước tiên củng cố và xây dựng một cơ chế chính trị hoàn chỉnh với một hệ thống bảo đảm sự tham gia chính trị của công dân, cuộc chạy đua tư hữu hóa (privatisation) mù quáng khiến hàng ngàn công ty nhà nước trong các lĩnh vực quan trọng như tài nguyên, công nghiệp nặng, ngân hàng và công ty quốc phòng rơi vào tay các cựu lãnh đạo cộng sản, các băng đảng mafia… Hệ quả mà chúng ta có là một nền kinh tế thị trường nửa vời, tiếp tục gây khó khăn cho sự phát triển của Đông Âu đến tận ngày nay. 

Thói quen, kỷ luật làm việc kém

Các nhà khoa học phương Tây, sau một thời gian dài nghiên cứu và đánh giá, đều đi đến kết luận chung về kỷ luật làm việc của lực lượng lao động tại Đông Âu là rất kém. 

Từ năm 1998, theo một công trình nghiên cứu rất bao quát và nổi tiếng của nhóm các nhà nghiên cứu Tây Âu, Bắc Âu và Bắc Mỹ mang tên “Institutional Design in Post-Communist Societies: Rebuilding the Ship at Sea”, kỷ luật làm việc kém luôn được ghi nhận là một trong những khó khăn căn bản nhất trong việc xây dựng lại khu vực kinh tế tư nhân. Những khuyết điểm này kể ra thì nhiều không đếm xuể, từ những đặc tính chung như thiếu chủ động (lack of initiative), ù lì (leisure on job), bất cẩn (negligence)… cho đến các vấn đề nghiêm trọng hơn như không quan tâm và không tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật (non-observance of technological specifications) hay thậm chí là ăn cắp thành phẩm, nguyên liệu. 

Những tính xấu này không chỉ được duy trì trong lao động bậc thấp hay trung lưu. Nghiên cứu của tờ The Economist còn ghi nhận những lời phàn nàn của các đối tác Tây Âu dành cho giới quản lý cấp cao tại những quốc gia Đông Âu trải dài từ quản lý giờ giấc lao động và làm việc thiếu hiệu quả, văn hóa tham nhũng trong việc đưa ra quyết định mua – bán, cũng như tính hình thức trong việc giải quyết các vấn đề kinh doanh. Họ mô tả rằng nhằm gây ấn tượng với các đối tác kinh doanh nước ngoài của mình cũng như hiện đại hóa mô hình làm việc để làm sao cho tương xứng với phương Tây, hàng trăm ngàn đô-la lại được đổ vào đá cẩm thạch trong các bậc thang, thang máy dát vàng và hệ thống máy tính hiện đại đắt đỏ khi mà mô hình kinh doanh của họ không dùng chúng cho việc gì hơn ngoài in chứng từ và lưu danh sách khách hàng.  

Việc thiếu môi trường học thuật tự do để nghiên cứu và chuẩn bị đầy đủ cho một công cuộc chuyển đổi từ chủ nghĩa cộng sản sang thị trường tự do cũng khiến cho ngay cả những người tham gia phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu có những hiểu nhầm hết sức căn bản giữa bản thân chủ nghĩa tư bản và hình ảnh hàng hóa dồi dào trên thị trường. Vấn đề này được Janusz Golebiowski, nhà kinh tế học Ba Lan từng hợp tác với Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế (World Economy Research Institute) chỉ ra khá rõ: 

“Khái niệm thị trường bị lãng mạn hóa bằng sự thừa thãi của hàng hóa và xa xỉ phẩm tại phương Tây, mà đặc biệt là Hoa Kỳ; mà không hề nhắc đến tinh thần làm việc công nghiệp, nguy cơ thất nghiệp, sự cần thiết của việc tái đào tạo kỹ năng cho phù hợp với thị trường, tính chủ động, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với an sinh xã hội của chính mình cũng như khả năng xung đột của các khác biệt xã hội.”

Đói vốn

Mô hình quản lý kinh tế – xã hội tập trung của các nhà nước cộng sản thường để lại một xã hội không có tiền để dành.

Người dân thường chỉ được cung cấp lượng hàng hóa đủ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân và gia đình, còn hệ thống tài chính tư nhân – xương sống của nền kinh tế quốc gia thì thậm chí còn không hề tồn tại. Điều này khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với khả năng thích ứng nhanh và năng lực sản xuất tốt hơn luôn đứng ở cuối hàng chờ trong các đơn xin vay vốn. Khi mà chính phủ tiếp tục đóng vai người cho vay duy nhất, các công ty liên quan đến viễn thông, khai khoáng, cầu đường và hàng không sẽ còn tiếp tục được ưu tiên cho vay. 

Vậy còn các nguồn tài chính nước ngoài thì sao? Đông Đức không phải cũng được xây dựng lại thành công nhờ vào tư bản Tây Đức đó sao? Song câu chuyện tại Đông Đức phức tạp hơn thế nhiều. Khi mà giới nhà giàu Tây Đức cảm thấy họ có trách nhiệm với người nhà của mình, các nhà tài phiệt phương Tây nói chung lại muốn dồn tiền của mình vào Đông Âu để xử lý một vấn đề mà họ quan ngại hơn – các nhà máy điện hạt nhân mà Đông Âu bị bắt buộc xây dựng trong thời kỳ Liên Xô. Sau khi thảm họa Chernobyl xảy ra vào năm 1986, việc cải cách năng lượng ở các quốc gia Đông Âu luôn là một đề tài được phương Tây quan tâm, và nhiều tỷ USD đã được chi ra chỉ để giải quyết vấn đề này. 

Để công bằng cho lịch sử của các nhà nước cộng sản Đông Âu, một yếu tố khách quan khác cũng gây ra tình trạng kiệt quệ tài chính của khu vực này – sự trỗi dậy của châu Á. 

Nhiều người dân Đông Âu đã từng tin tưởng rằng sau khi họ thoát khỏi cái bóng Xô-viết, một Kế hoạch Marshall thế hệ mới sẽ được Hoa Kỳ dành cho họ, tạo thành cú hích cho nền kinh tế của toàn khu vực. Đáng tiếc là điều này không thể diễn ra khi châu Á đang trỗi dậy trở thành một điểm đến hấp dẫn mới cho đầu tư nước ngoài. Vài lý do có thể kể đến như châu Á có dân số trẻ và đông đảo, kỷ luật làm việc được chuôi rèn tương đối tốt, Trung Quốc vừa mở cửa Đặc khu Kinh tế Thẩm Quyến, Nhật Bản là một nơi ăn nên làm ra đã được hơn một thập niên, Hàn Quốc – Đài Loan đều cung cấp quá nhiều lợi thế cho các nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động sản xuất, Singapore – Hong Kong tiếp tục khẳng định là một trung tâm tài chính – vận tải quá an toàn… 

Định mệnh đẩy Đông Âu vào thế phải cải cách kinh tế và thu hút nguồn tư bản nước ngoài ngay thời điểm cả thế giới đổ tiền vào châu Á. 

*** 

Hiển nhiên, những chi tiết phân tích ở trên chỉ có thể phác họa sơ cho bạn đọc thấy được vì sao Đông Âu phải vật lộn để chuyển mình và những hệ quả mà chủ nghĩa cộng sản để lại cho các quốc gia này. Tuy nhiên, đây sẽ là những điểm khởi đầu đối thoại tốt cho tương lai của chính chúng ta. 

Bạn có biết...

... Luật Khoa là một tạp chí độc lập và phi lợi nhuận. Với mong muốn mang lại trải nghiệm đọc báo tốt nhất cho bạn đọc, chúng tôi không đặt quảng cáo và do đó không có doanh thu. Luật Khoa chi trả mọi chi phí bằng các khoản đóng góp của bạn đọc.

Mỗi ngày, các phóng viên, biên tập viên và cộng tác viên của Luật Khoa đều tận tâm với từng con chữ và từng mối quan tâm của bạn đọc, nhằm mang lại cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ và đa chiều về những vấn đề pháp luật, chính trị.

Nếu tất cả bạn đọc đều đóng góp cho Luật Khoa, dù là 20 nghìn đồng, tờ báo độc lập và khai phóng này của chúng ta sẽ hoạt động hiệu quả và bền vững hơn rất nhiều. Mỗi đồng bạn đóng góp đều giúp cho Việt Nam của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn, và bạn chỉ mất một phút để trở thành nhà tài trợ của Luật Khoa. Xin cảm ơn.





Click to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Bài đọc nhiều